Tư vấn giải quyết tranh chấp chung cư

08/06/2012 08:43

Thông tin cần thiết về quy định sở hữu chung, sở hữu riêng nhà chung cư đang gây tranh cãi hiện nay. 

–  Có cấm kinh doanh trong chung cư được không (đặc biệt là lầu trệt), cơ sở pháp lý để từ chối cấp đăng ký kinh doanh trong chung cư? (Phan Minh, 30 tuổi,[email protected])

Ông Đỗ Phi Hùng – phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM:

Theo Điều 23 Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng, quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư, Khoản 6 đã khẳng định nghiêm cấm sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng hoặc phần sử dụng riêng trái với mục đích quy định.

Nghị định 23/2009/NĐ-CP ngày 27-2-2009 của Chính phủ, tại Điều 52 quy định xử phạt chủ sở hữu, người sử dụng nhà ở có hành vi vi phạm các quy định về quản lý nhà ở, tại khoản 3, điểm d quy định phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng hoặc phần sử dụng riêng trái mục đích quy định.

Ngày 19-11-2009, Bộ Xây dựng có Công văn số 2544/BXD-QLN quy định về quản lý sử dụng chung cư như sau: “…Pháp luật về quản lý sử dụng chung cư không cho phép chủ sở hữu nhà ở sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng trái mục đích quy định. Ngoài ra, việc sử dụng văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh xen lẫn với nhà ở gây xáo trộn, mất trật tự và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống ở các nhà chung cư…”.

Ông Đỗ Phi Hùng - phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM

Ngày 24-4-2012, Bộ Xây dựng có công văn 637/BXD-QLN về việc sử dụng căn hộ chung cư. Theo công văn này Bộ Xây dựng cho rằng trường hợp sử dụng căn hộ nhà chung cư vào mục đích không phải để ở sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ công trình như: làm tăng dân số, tăng lưu lượng người ra vào, tăng tải trọng công trình, mật độ xe ra vào tăng cao, nhu cầu diện tích để xe lớn, gây khó khăn trong việc kiểm soát công tác phòng chống cháy nổ … ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của cư dân sống tại chung cư. Bộ Xây dựng chỉ đạo Sở Xây dựng báo cáo UBND TP.HCM yêu cầu các cơ quan chức năng của thành phố sử dụng nhà chung cư đúng mục đích theo quy định của Luật Nhà ở và triển khai thực hiện một số việc như:

– Kiểm tra, rà soát, thống kê và phân loại về số lượng, hiện trạng sử dụng đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng vào mục đích không phải để ở;

– Đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng làm văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng vi phạm các điều cấm của pháp luật hiện hành thì cần có ngay phương án để chuyển văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh đó ra khỏi căn hộ nhà chung cư

– Trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp mà cơ thể tách riêng các văn phòng với khu nhà ở thì thực hiện việc quản lý các văn phòng như đối với các công trình kinh doanh, dịch vụ.

Như vậy tại công văn nêu trên, Bộ Xây dựng tiếp tục khẳng định không được sử dụng căn hộ trong nhà chung cư vào các mục đích khác, ngoại trừ dùng để ở.

– Khi chung cư hết hạn sử dụng, cơ quan nào xây dựng lại chung cư và đền bù cho người dân như thế nào? (Cuc Nguyen, 40 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Khi chung cư hết hạn sử dụng, việc phá dỡ nhà chung cư và đền bù cho người dân được quy định tại Luật Nhà ở như sau: Tại khoản 3, điều 83 quy định nhà chung cư cao tầng hết niên hạn sử dụng là một trong các trường hợp nhà ở phải phá dỡ.

Về trách nhiệm phá dỡ nhà ở, khoản 3 điều 84 quy định: Việc phá dỡ nhà chung cư từ hai tầng trở lên và nhà ở khác từ bốn tầng trở lên phải do doanh nghiệp có năng lực về xây dựng thực hiện và phải có phương án phá dỡ cụ thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp khẩn cấp.

Về chỗ ở của hộ gia đình, cá nhân khi nhà ở bị phá dỡ, theo điều 87 quy định: 1.Chủ sở hữu nhà ở phải tự lo chỗ ở cho mình khi nhà ở bị phá dỡ; 2. Phá dỡ nhà ở thuộc diện giải phóng mặt bằng thì chỗ ở của hộ gia đình, cá nhân được giải quyết theo chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhưng phải bảo đảm nguyên tắc chỗ ở mới của hộ gia đình, cá nhân phải bằng hoặc tốt hơn chỗ ở cũ.

Theo quy định tại khoản 2 điều 89, phá dỡ nhà ở theo nhu cầu của chủ sở hữu nhà ở:Việc phá dỡ nhà chung cư của nhiều chủ sở hữu theo nhu cầu thì phải được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đồng ý và phải tuân thủ các quy định tại điều 84 và điều 85 của Luật này: Trường hợp phá dỡ nhà chung cư để xây dựng lại thì phải có dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm quyền được tái định cư và lợi ích chính đáng của các chủ sở hữu nhà chung cư theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, tại Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ có quy định như sau:

1. Nhà chung cư cũ bị hư hỏng nghiêm trọng, xuống cấp có nguy cơ sập đổ đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về kiểm định chất lượng công trình xây dựng thì UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức di chuyển các hộ gia đình đang sống trong nhà chung cư tới địa điểm khác để thực hiện phá dỡ nhà ở đó.

Các hộ gia đình có trách nhiệm di chuyển theo quyết định của UBND cấp tỉnh và được hưởng các quyền và lợi ích như đối với trường hợp giải phóng mặt bằng.

2. Đối với nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu mà thực hiện phá dỡ theo yêu cầu của các chủ sở hữu để xây dựng lại thì phải được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đó đồng ý. Số chủ sở hữu còn lại không đồng ý phá dỡ thì sẽ bị UBND cấp tỉnh cưỡng chế di chuyển và phải chi trả các chi phí cho việc cưỡng chế phá dỡ nhà ở.

Nhà nước có chính sách ưu đãi và khuyến khích đối với trường hợp chủ sở hữu tự nguyện di chuyển đến nơi ở khác (không tái định cư tại chỗ) sau khi xây dựng lại nhà chung cư.

3. Trường hợp nhà chung cư cũ chưa thuộc diện phải phá dỡ theo quy định tại khoản 1 điều này nhưng các chủ sở hữu có nhu cầu cải tạo nâng cấp hoặc mở rộng thêm diện tích thì phải được hai phần ba tổng số chủ sở hữu nhà chung cư đó đồng ý. Việc cải tạo nhà chung cư phải phù hợp quy hoạch xây dựng và tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng.

– Tôi định mua căn hộ tại quận 2, TP.HCM. Ở phần ghi diện tích căn hộ trong hợp đồng mua bán, chủ đầu tư có ghi 2 loại diện tích là diện tích bán (144m2) và diện tích đăng ký để cấp sổ hồng (129 m2). Chủ đầu tư cho biết là diện tích bán tính từ tim tường và diện tích đăng ký tính lọt lòng (tường trong). Xin giải thích kỹ hơn cho tôi về cách tính này? Tại sao hai cách tính lại chênh lệch về diện tích như vậy? Cách lý giải của chủ đầu tư và phần ghi diện tích như vậy trong hợp đồng có hợp lý không? (Bùi Châu Tuấn, 30 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 1-9-2010 của Bộ Xây dựng quy định việc xác định diện tích căn hộ nhà chung cư có thể thực hiện theo hai phương thức: tính kích thước thông thủy của căn hộ hoặc tính từ tim tường bao, tường ngăn chia các căn hộ. Việc xác định diện tích căn hộ theo một trong hai phương thức trên phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ nhà chung cư.

Về sự chênh lệch diện tích của hai cách tính đối với căn hộ của ông là 144m2 và 129 m2, phải căn cứ vào hiện trạng hoặc bản vẽ căn hộ, do đó không thể trả lời cụ thể cho ông được.

– Căn cứ theo Luật Nhà ở, diện tích sở hữu riêng của chủ đầu tư: diện tích của chủ đầu tư giữ lại, diện tích không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ. Vậy diện tích tầng hầm không phân bổ vào giá thành là diện tích của chủ đầu tư? (Lê Đào Trường Uyên, 33 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo Khoản 3 Điều 70 Luật Nhà ở và Khoản 2 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diê%3ḅn tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau: Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư; Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư; Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư; Các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư quy định tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở.

Đối với trường hợp các công trình được đầu tư xây dựng trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành, việc xác định phần diện tích nơi để xe của nhà chung cư thuộc sở hữu chung hoặc sở hữu riêng của chủ đầu tư cần xem xét trong Hợp đồng mua bán có quy định phần diện tích này thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Trường hợp Hợp đồng không có quy định về phần diện tích nơi để xe thì cần căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt để xác định phần diện tích nơi để xe thuộc phần sở hữu chung hoặc riêng; nếu trong hồ sơ, tài liệu, dự án không có quy định về quyền sở hữu diện tích nơi để xe thì chủ đầu tư và các chủ sở hữu phải thỏa thuận đảm bảo quyền lợi của chủ đầu tư và các chủ sở hữu.

– Về quĩ bảo trì dự phòng. Tầng hầm và khu thương mại có phải đóng phí cho quỹ này không? Chủ đầu tư tự nhận diện tích này là của mình và không đóng quĩ bảo trì dự phòng với lý do có bộ phận bảo trì riêng trong khi vẫn sử dụng hệ thống kỹ thuật của toà nhà liệu có hợp lý. Ban quản trị có quyền ngừng cung cấp các dịch vụ cho các phần sở hữu không đóng phí này không? (Thanh An, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Để xác định nghĩa vụ nộp phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư, trước hết cần phải xác định diện tích tầng hầm và khu thương mại thuộc sở hữu chung hay hay sở hữu riêng của chủ đầu tư, và thời điểm chủ đầu tư bán căn hộ chung cư (trước hay sau ngày 1-7-2006 – ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành).

Theo thông tin Ông (Bà) cung cấp, diện tích nêu trên thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư. Theo đó, chủ đầu tư vẫn phải đóng góp kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư nếu chủ đầu tư đã bán căn hộ từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ: “Đối với phần diện tích mà chủ đầu tư giữ lại, không bán (không tính phần diện tích thuộc sử dụng chung) thì chủ đầu tư phải nộp 2% giá trị của phần diện tích đó; phần giá này được tính theo giá bán căn hộ cao nhất của nhà chung cư đó”.

Trường hợp chủ đầu tư đã ký hợp đồng bán căn hộ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành mà chủ đầu tư chưa thu 2% tiền bán thì các chủ sở hữu căn hộ có trách nhiệm đóng góp khoản kinh phí để bảo trì phần sở hữu chung (điểm c khoản 1 Điều 51 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP).

– Về quyền của Ban Quản trị nhà chung cư trong việc ngừng cung cấp dịch vụ cho các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư chưa nộp phí dich vụ nhà chung cư:

Theo quy định về quyền và trách nhiệm của Ban Quản trị nhà chung cư tại Điều 12 của Quyết định 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng, Ban Quản trị nhà chung cư không có quyền ngừng cung cấp dịch vụ cho các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư không đóng góp chi phí dịch vụ nhà chung cư.

Tuy nhiên, đây là một thực tế khá phổ biến tại TP.HCM. Sở Xây dựng đã ghi nhận và sẽ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn.

– Tầng hầm, chỗ đậu xe được qui định thuộc “tiện ích chung” của nhà chung cư theo các qui định của pháp luật và theo hợp đồng hứa mua hứa bán. Khi giao nhà, chủ đầu tư thay đổi Hợp đồng mua bán không thoả thuận với cư dân và nhận bãi đậu xe thuộc sở hữu của mình, thông qua công ty con thu hộ dịch vụ trông giữ xe với mức giá cao hơn nhiều so với qui định tại QĐ 245, có phù hợp qui định của pháp luật không? (Thanh An, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Để trả lời chính xác câu hỏi của bạn, Sở Xây dựng đề nghị được cung cấp thêm nột số chi tiết như sau:

– Thời điểm chủ đầu tư và người mua căn hộ nhà chung cư ký kết hợp đồng mua bán chính thức.

– Thỏa thuận về diện tích chỗ đậu xe trong hợp đồng mua bán chính thức như thế nào?

Theo qui định của pháp luật, tường, kết cấu chịu lực thuộc sở hữu chung của nhà chung cư. Đối với chung cư cao tầng diện tích vách tường chịu lực chiếm tỷ trọng rất lớn, diện tích này có được tính sở hữu riêng của căn hộ hay không? (Công Minh, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 70 Luật Nhà ở và điểm a khoản 2 Điều 49 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ quy định: không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực thuộc phần diện tích sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư. Do đó, đối với trường hợp này, phần diện tích vách tường chịu lực là phần diện tích sở hữu chung.

– Tại sao đến nay TP.HCM chưa ban hành khung phí dịch vụ chung cư? Như vậy thì người dân sống trong nhà chung cư bị thiệt thòi rất nhiều.

– Ông Đỗ Phi Hùng: Giá dịch vụ nhà chung cư thuộc quan hệ dân sự do bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ tự thỏa thuận với nhau trên cơ sở hợp đồng dân sự, được điều tiết theo quy luật thị trường.

Nếu nhà nước (UBND TP) ban hành Quyết định công bố giá dịch vụ nhà chung cư trên địa bàn thành phố thì khi có tranh chấp về mức giá này giữa các bên (bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ nhà chung cư), thay vì phải giải quyết tranh chấp theo hợp đồng, các bên sẽ khiếu nại hoặc khiếu kiện Quyết định công bố giá này (cơ quan ban hành quyết định sẽ là bên bị khiếu nại hoặc bị kiện).

Trong điều kiện giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường tại thành phố liên tục biến động (thể hiện thông qua chỉ số giá CPI hàng tháng/quý/năm), cơ quan nhà nước không thể điều chỉnh giá theo kịp xu thế biến động của thị trường.

Ngoài ra, căn cứ pháp lý để xây dựng giá dịch vụ nhà chung cư cũng chưa đầy đủ, cụ thể là: Theo khoản 3 Điều 73 Luật Nhà ở và khoản 4 điều 50 Nghị định 71/2010/NĐ-CP của Chính phủ, quy định: “Dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư được hưởng các cơ chế như đối với dịch vụ công ích theo hướng dẫn của Bộ Tài chính”.

Qua rà soát các văn bản Quy phạm pháp luật do Bộ Tài chính ban hành giai đoạn 2010-2011, Sở Xây dựng nhận thấy Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn cơ chế tài chính áp dụng cho dịch vụ công ích. Do đó, Sở Xây dựng chưa đủ cơ sở pháp lý tham mưu cho UBND TP ban hành quyết định giá dịch vụ nhà chung cư.

Mặc dù thành phố chưa ban hành giá dịch vụ nhà chung cư nhưng không có nghĩa là thả nổi việc xác định giá dịch vụ.

Ngày 1-12-2009 Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư 37/2009/TT-BXD hướng dẫn phương pháp xác định và quản lý giá dịch vụ nhà chung cư. Đây là cơ sở để bên cung cấp dịch vụ xác định giá theo quy tắc tính đúng, tính đủ các chi phí, có một phần lợi nhuận định mức hợp lý để quản lý, vận hành nhà chung cư hoạt động bình thường, phù hợp với thực tế kinh tế xã hội của thành phố, thu nhập của người dân từng thời kỳ, được trên 50% các thành viên trong Ban Quản trị nhà chung cư thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín.

Đối với nhà chung cư chưa thành lập được Ban Quản trị, giá dịch vụ nhà chung cư phải được trên 50% hộ dân cư đang sống tại nhà chung cư nhất trí thông qua bằng hình thức biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín. Trường hợp giá dịch vụ nhà chung cư đã có thỏa thuận trong hợp đồng mua bán căn hộ thì thực hiện như thỏa thuận đó.

Chi phí dịch vụ nhà chung cư trong giá dịch vụ nhà chung cư được thu, chi theo nguyên tắc tự thu, tự trang trải và công khai. Thông tư 37 cũng đã quy định các chi phí cấu thành giá dịch vụ nhà chung cư và công thức xác định giá dịch vụ nhà chung cư làm cơ sở để các bên tính toán, xác định giá cụ thể tại chung cư.

Sở Xây dựng có trách nhiệm kiểm tra việc xác định giá dịch vụ nhà chung cư và kiểm tra tình hình quản lý và sử dụng nhà chung cư theo các quy định của pháp luật.

– Hiện nay căn hộ Lotus Garden Tân phú thuộc Công ty cổ phần Viết Âu thu tiền chi phí quản lý tòa nhà hàng tháng là 7.000 đồng/m2 như vậy có đúng quy định của UBND thành phố không? (nguyễn hoàng, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Hiện nay, UBND TP.HCM chưa có quy định về giá dịch vụ quản lý vận hành (hoặc chi phí dịch vụ) nhà chung cư.

– Công viên cây xanh tập trung trong qui hoạch tổng thể 1/500 có phải là thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng? Việc chủ đầu tư tự nhận diện tích trên thuộc sở hữu của mình có đúng qui định pháp luật không? Chủ đầu tư ngăn ½ diện tích công viên cây xanh để xây dựng bể bơi ngoài trời và kinh doanh dịch vụ nhậy cảm có phù hợp không? Cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi việc thực hiện dự án và cơ quan nào sẽ trực tiếp giải quyết khiếu nại của các chủ sở hữu khác trong khu.(Thiên Tân, 60 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo quy định của pháp luật, công viên cây xanh trong các dự án nhà ở là công trình công cộng, không thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư. Việc chủ đầu tư tự nhận phần diện tích nêu trên thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư là không đúng quy định của pháp luật.

Lực lượng Thanh tra xây dựng ở xã – phường – thị trấn, quận – huyện và Sở Xây dựng có thẩm quyền kiểm tra và xử lý vi phạm việc xây dựng không phép trên phần đất công viên cây xanh. Bạn có thể phản ảnh với các cơ quan: UBND phường, UBND quận, Sở Xây dựng để kiểm tra, xử lý vụ việc nêu trên.

– Nhà tôi ở tầng trệt của một chung cư ở quận 2. Tôi xin đăng ký kinh doanh nhà thuốc nhưng UBND quận 2 không cho tôi đăng ký. Như vậy có đúng không? Tôi nghe nói chỉ cấm kinh doanh những ngành nghề gây cháy nổ, thu hút nhiều người đến chứ nhà thuốc thì không có ảnh hưởng gì, tại sao cấm? (M.Y, 34 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo Khoản 6, Điều 23 Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng nhà chung cư, đã khẳng định nghiêm cấm sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng hoặc phần sử dụng riêng trái với mục đích quy định.

Tại Điều 52, Nghị định 23/2009/NĐ-CP ngày 27-2-2009 quy định xử phạt chủ sở hữu, người sử dụng nhà ở có hành vi vi phạm các quy định về quản lý nhà ở, phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi sử dụng hoặc cho người khác sử dụng phần sở hữu riêng hoặc phần sử dụng riêng trái mục đích quy định.

Theo công văn 637/BXD-QLN ngày 24-4-2012 của Bộ Xây dựng cho rằng trường hợp sử dụng căn hộ nhà chung cư vào mục đích không phải để ở sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ công trình như: làm tăng dân số, tăng lưu lượng người ra vào, tăng tải trọng công trình, mật độ xe ra vào tăng cao, nhu cầu diện tích để xe lớn, gây khó khăn trong việc kiểm soát công tác phòng chống cháy nổ… ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của cư dân sống tại chung cư. Bộ Xây dựng chỉ đạo Sở Xây dựng báo cáo UBND TP.HCM yêu cầu các cơ quan chức năng của thành phố sử dụng nhà chung cư đúng mục đích theo quy định của Luật Nhà ở và triển khai thực hiện một số việc như:

Kiểm tra, rà soát, thống kê và phân loại về số lượng, hiện trạng sử dụng đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng vào mục đích không phải để ở;

Đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng làm văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng vi phạm các điều cấm của pháp luật hiện hành thì cần có ngay phương án để chuyển văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh đó ra khỏi căn hộ nhà chung cư

Trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp mà cơ thể tách riêng các văn phòng với khu nhà ở thì thực hiện việc quản lý các văn phòng như đối với các công trình kinh doanh, dịch vụ.

Như vậy tại công văn nêu trên, Bộ Xây dựng tiếp tục khẳng định không được sử dụng căn hộ trong nhà chung cư vào các mục đích khác không phải để ở.

– Chung cư Nguyễn Tri Phương (Q.10) do Công ty Nhà Phú Nhuận làm chủ đầu tư và đưa vào vận hành từ năm 2003 (đã được cấp sổ hồng). Từ vài năm nay, Công ty không quản lý và vận hành mà do người dân tự đứng ra quản lý. Đồng thời, Công ty không bàn giao nhà chung cư về cho Q.10, nên Q.10 không thể ra quyết định công nhận Ban quản trị chung cư (do cư dân chung cư bầu) như quy định trong QĐ 08/2008/QĐBXD của Bộ XD (Điều 28, khoản 2) (theo trả lời của Phòng Quản lý Đô thị Q.10), dẫn đến Ban quản trị không đủ tư cách pháp lý ký kết các hợp đồng dịch vụ trong việc hoạt động chung cư. Việc thế này thì phải giải quyết ra sao và ai/đơn vị/cơ quan nào chịu trách nhiệm giải quyết và nếu không chịu giải quyết thì sao? (Bùi Hoài Thắng, 39 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Tại Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 có các quy định như sau:

Theo Khoản 2 Điều 10, trường hợp nhà chung cư không xác định được chủ đầu tư thì đơn vị đang quản lý nhà chung cư đó hoặc UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là UBND cấp quận) có trách nhiệm chủ trì tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu.

Điều 28 về trách nhiệm của UBND cấp quận, có nhiệm vụ ra quyết định công nhận kết quả bầu Ban quản trị nhà chung cư; kiểm tra công tác quản lý sử dụng nhà chung cư; xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo UBND cấp tỉnh. Căn cứ vào các quy định nêu trên, đề nghị ông (bà) liên hệ UBND quận 10 để được giải quyết.

– Khoảng lùi trong công trình xây dựng (từ chỉ giới đường đỏ tới chỉ giới xây dựng) có thuộc sở hữu chung hay không? Ai có quyền sử dụng diện tích này để kinh doanh của đầu tư hay các chủ sở hữu khác. (Giang An, 40 tuổi,[email protected]…)

– Ông Đỗ Phi Hùng: Khoảng lùi công trình xây dựng là một trong các chỉ tiêu kiến trúc, quy hoạch, xây dựng công trình, được quy định trong quy hoạch, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng có liên quan. Chủ đầu tư và các chủ sở hữu khác trong nhà chung cư không được sử dụng diện tích này để kinh doanh.

 – Chung cư có quyền tự đưa ra giá dịch vụ gửi xe hay không? Mức quản lý thu phí giữ xe chung trên địa bàn TP.HCM được quy định như thế nào, cụ thể bao nhiêu? (Quang Khánh)

– Ông Đỗ Phi Hùng: Trong thời gian UBND thành phố chưa ban hành mức trần giá dịch vụ nhà chung cưthì giá trông giữ ô tô có thể thực hiện theo phương thức tự thỏa thuận giữa các bên. Về quy định phí trông giữ xe, đề nghị bạn tham khảo Quyết định số 245/2005/QĐ-UBND ngày 30-5-2005 của UBND TP.HCM.

–  Về diện tích chủ đầu tư giữ lại để kinh doanh trong khu nhà ở kết hợp thương mại thì trách nhiệm đóng phí của chủ đầu tư và cư dân là như nhau. Tuy nhiên chủ đầu tư không đóng phí cho diện tích này thì cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này. (Toàn Thắng, 36 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Căn cứ Điều 25 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư, ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng, quy định về giải quyết tranh chấp, đề nghị ông, bà khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

Ông (bà) có thể gửi đơn nêu địa chỉ cụ thể của chung cư và chủ đầu tư là ai để Sở Xây dựng kiểm tra và có hướng xử lý cụ thể.

–  Công viên cây xanh thuộc Hành lang bảo vệ đường sông có được tính trong diện tích cây xanh của toàn dự án hay không? Chủ đầu tư nhận diện tích này là của mình và kêu gọi đầu tư để kinh doanh trên phần đất này có phù hợp? (Thiên Tân, 60 tuổi, [email protected]…)

– Ông Đỗ Phi Hùng: Để xác định chủ đầu tư có sử dụng đất công viên cây xanh thuộc hành lang bảo vệ công trình đường sông để sử dụng vào mục đích riêng không (kinh doanh), cần phải kiểm tra để xác định rõ diện tích và ranh đất được cơ quan có thẩm quyền giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án nhà ở này.

Nếu phần diện tích mà chủ đầu tư đang dự định kinh doanh nằm ngoài ranh giao đất và vi phạm hành lang bảo vệ an toàn đường sông, đề nghị ông, bà phản ánh ngay cho UBND phường, UBND quận để xử lý kịp thời, chấm dứt ngay tình trạng vi phạm này.

Riêng diện tích công viên cây xanh thuộc đất công trình công cộng, chúng tôi đã trả lời cho một bạn đọc ở phần trên, đề nghị ông (bà) tham khảo thêm.

– Hội nghị nhà chung cư lần thứ 1 có cần thông qua 5 nội dung trong khoản 3 Điều 11 của QĐ 08/2008/QĐ-BXD hay không? Hay hội nghị chỉ cần thông qua: Đề cử và bầu Ban quản trị; đề cử và bầu bổ sung, bãi miễn thành viên Ban quản trị trong trường hợp tổ chức Hội nghị nhà chung cư bất thường…” (Tiên Phong, 39 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Hội nghị nhà chung cư lần đầu chỉ cần thông qua các nội dung tại điểm a, b khoản 3 Điều 11 của Quy chế quản lý sử dụng chung cư ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế của từng chung cư, khi tiến hành Hội nghị nhà chung cư lần đầu cũng có thể thông qua 5 nội dung trong khoản 3 Điều 11 của Quy chế quản lý sử dụng chung cư.

– Khi có cư dân chung cư tự tiện cơi nới (như mở rộng ban công) hoặc thay đổi cấu trúc căn hộ trong chung cư thì xử lý ra sao? Ai hay đơn vị nào chịu trách nhiệm? Trong trường hợp chung cư chưa được chủ đầu tư bàn giao về địa phương và chủ đầu tư không có động thái nào giải quyết sự việc thì phải làm sao? (Bùi Hoài Thắng, 39 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Điều 23 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng, tại khoản 1 quy định nghiêm cấm cơi nới, chiếm dụng diện tích, không gian hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc phần sở hữu chung hoặc phần sử dụng chung dưới mọi hình thức; đục phá, cải tạo, tháo dỡ hoặc làm thay đổi phần kết cấu chịu lực, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị sử dụng chung, kiến trúc bên ngoài của nhà chung cư.

Tại khoản 3 Điều 52 Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27-2-2009 của Chính phủ quy định việc xử phạt chủ sở hữu, người sử dụng nhà ở có hành vi vi phạm các quy định về quản lý nhà ở. Theo đó, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm: Tự ý cơi nới, chiếm dụng diện tích, không gian hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc phần sở hữu chung hoặc phần sử dụng chung dưới mọi hình thức; đục phá, cải tạo, tháo dỡ kết cấu của phần sở hữu chung, phần sở hữu riêng hoặc phần sử dụng riêng; thay đổi phần kết cấu chịu lực, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị sử dụng chung, kiến trúc bên ngoài của nhà chung cư (điểm e).

Khi phát hiện vi phạm, ông (bà) có thể báo UBND phường, UBND quận hoặc Sở Xây dựng để Thanh tra xây dựng tiến hành kiểm tra, xử lý theo quy định.

– Tôi đang sở hữu 1 căn hộ chung cư tại quận 1, nay tôi làm thủ tục xin cấp giấy chủ quyền mới nhưng trong quá trình vẽ bản vẽ theo quy định thì phòng Tài nguyên môi trường Q.1 yêu cầu vẽ toàn bộ khuôn viên của cả chung cư! Nay tôi có thể xin trích lục bản vẽ khuôn viên của chung cư đó ở đâu? (hai, 35 tuổi,[email protected]…)

– Ông Đỗ Phi Hùng: Trách nhiệm cung cấp hồ sơ, bản vẽ thuộc chủ đầu tư. Đề nghị ông liên hệ chủ đầu tư để được cung cấp bản vẽ này, bổ túc hồ sơ cấp chủ quyền theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Việc cấp giấy chứng nhận thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND quận nơi chung cư tọa lạc.

– Trong thời gian tranh chấp, chủ đầu tư có được kêu gọi tìm kiếm nhà đầu tư để chuyển giao quyền sở hữu tầng hầm – nơi để xe. Nếu trường hợp này xảy ra thì Sở xây dựng có thể tư vấn các biện pháp ngăn chặn nào không? Tầng hầm đang tranh chấp thì có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng không? (Thanh An, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Tại Điều 70 Luật Nhà ở, quy định về phần sở hữu riêng và sở hữu chung trong nhà chung cư, có quy định nơi để xe thuộc phần sở hữu chung trong nhà chung cư.

Trường hợp nhà chung cư được đầu tư xây dựng trước khi Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành, cần phải xem xét nội dung Hợp đồng mua bán nhà ở. Một trong các điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, là không có tranh chấp.

Trường hợp có vướng mắc trong quản lý sử dụng nhà chung cư, đề nghị liên hệ UBND cấp quận nơi chung cư tọa lạc hoặc Sở Xây dựng để phản ảnh. Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng trong nhà chung cư, nếu không hòa giải được, đề nghị khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

– Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ quan quản lý địa phương công nhận diện tích sàn bằng diện tích căn hộ theo hợp đồng trong khi bản vẽ kèm theo thể hiện kích thước thông thuỷ và không thể hiện đơn vị diện tích và không thể hiện vách tường chịu lực để gây nhầm lẫn cho chủ sở hữu. Văn phòng Đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận theo các nội dung trên có hợp lý không? Nếu các nội dung trên không đúng thì cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết khiếu nại. (Công Minh, 45 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Nội dung câu hỏi của bạn đã được Sở Xây dựng trả lời cho một độc giả có câu hỏi tương tự, đề nghị bạn tham khảo câu trả lời này.

– Ai sẽ là người ký tờ trình xin công nhận Ban quản trị với UBND Quận? Chủ đầu tư hay Ban quản trị đắc cử? Sau thời gian 15 ngày qui định như khoản 4 điều 12 nêu trên, nếu Chủ tịch UBND Quận không ra quyết định công nhận Kết quả Hội nghị thì cấp quản lý nào sẽ là người đứng ra giải quyết vấn đề này. (Tiên Phong, 39 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Quy chế quản lý sử dụng chung cư ban hành kèm theo Quyết định số 08/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng quy định: Trong thời hạn không quá 12 tháng, kể từ ngày nhà chung cư được bàn giao đưa vào sử dụng và có 50% căn hộ được bán trở lên thì Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức Hội nghị nhà chung cư lần đầu.

Như vậy, Chủ đầu tư sẽ lập hồ sơ để UBND cấp quận ban hành Quyết định công nhận Ban quản trị nhà chung cư.

Trong thời gian 15 ngày theo qui định tại khoản 4 Điều 12 Quy chế quản lý sử dụng chung cư, UBND cấp quận phải ra quyết định công nhận Ban quản trị, trường hợp nếu hồ sơ chưa đạt yêu cầu thì UBND cấp quận phải có văn bản trả lời, hướng dẫn cho chủ đầu tư. Trường hợp quá thời hạn 15 ngày theo qui định mà UBND cấp quận không ban hành quyết định công nhận Ban quản trị hoặc không có văn bản trả lời, hướng dẫn thì chủ đầu tư phản ánh đến Sở Xây dựng để cùng phối hợp với UBND cấp quận kiểm tra, xử lý theo quy định.

– Các điểm còn lại trong nội dung trong khoản 3 Điều 11 Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD. Hội nghị có được biểu quyết uỷ quyền cho Ban quản trị nội dung Ban quản trị mới được bầu chọn (“BQT”) sẽ thay mặt và đại diện cho tất cả các cư dân để thông qua tất cả các nội dung cần được cư dân thông qua tại hội nghị nhà chung cư như nêu trong Khoản 3, Điều 11 của Quy chế Quản lý Nhà Chung cư (“Quy Chế NCC”) được ban hành kèm theo Quyết định 08. Đồng thời, các nội dung do BQT thông qua sẽ có hiệu lực như chính các cư dân thông qua tại hội nghị và sẽ được thông báo đến các chủ sở hữu và người đang sử dụng. (Tiên Phong, 39 tuổi, [email protected])

Ông Đỗ Phi Hùng: Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28-5-2008 của Bộ Xây dựng không quy định cơ chế ủy quyền cho Ban quản trị nhà chung cư được quyết định các nội dung thuộc thẩm quyền của Hội nghị nhà chung cư.

– Phía trước lô gia của căn hộ tôi ở còn 1 khoảng đất trống 32m2 nhưng chủ đầu tư không bán, xin hỏi nếu sau này chủ đầu tư đặt biển quảng cáo to che khuất sự thông thoáng và tầm nhìn của lô gia căn hộ tôi ra ngoài thì có đúng luật hay không? Tôi có quyền yêu cầu chủ đầu tư để trống thông thoáng cho tầm nhìn của căn hộ tôi hay không vì căn hộ chỉ có một lô gia mà thôi? (Trương Thị Hồng Đào, 36 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Việc đặt biển quảng cáo phải theo đúng quy định tại Quyết định số 39/2009/QĐ-UBND ngày 5-6-2009 của UBND thành phố ban hành Quy định về hoạt động quảng cáo trên địa bàn TP.HCM. Ngoài ra, do không có đầy đủ thông tin về vị trí, quyền sử dụng khoảng đất trống 32 m2 nên không thể trả lời cụ thể được.

– Khi người dân chung cư không đồng tình với mức giá dịch vụ thì cơ quan nào có thể làm trọng tài phân giải? Nếu cư dân chung cư không đồng ý đóng tiền dịch vụ (giả sử đã được đa số cư dân chung cư thông qua) thì phải xử lý ra sao? Đơn vị/cơ quan nào chịu trách nhiệm xử lý? (Bùi Hoài Thắng, 39 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Câu hỏi này đã được Sở Xây dựng trả lời cho một độc giả trong buổi giao lưu này. Đề nghị bạn xem kết quả trả lời ở trên của Sở.

– Chủ đầu tư sử dụng phần diện tích trước đây theo bản vẽ để làm nhà trẻ, văn phòng, cho thuê làm nhà hàng có đúng không? (Minh Cua, 46 tuổi,[email protected]…)

– Ông Đỗ Phi Hùng: Trường hợp của bạn nêu cần phải rà soát lại pháp lý của dự án đầu tư và hợp đồng mua bán nhà trong chung cư để xem xét phần diện tích nhà trẻ thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư hay thuộc sở hữu chung của cộng đồng cư dân chung cư. Tuy nhiên, việc sử dụng nhà trẻ trong hồ sơ thiết kế công trình để làm văn phòng hoặc cho thuê là nhà hàng là sai công năng, mục đích sử dụng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc cấp phép xây dựng.

– Vui lòng cho tôi biết hiện nay giá dịch vụ tối đa mà các hộ dân phải đóng để vận hành nhà chung cư tối đa là bao nhiêu tiền trên 1 m2 theo qui định nào của thành phố? Xin cảm ơn (Phạm hoài Nam, 36 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Hiện nay, UBND thành phố chưa ban hành mức trần giá dịch vụ nhà chung cư, do đó giá dịch vụ nhà chung cư sẽ do các bên thỏa thuận. Về cách xác định giá dịch vụ nhà chung cư, các bên sẽ căn cứ quy định tại Thông tư số 37/2009/TT-BXD ngày 1-12-2009 của Bộ Xây dựng để làm cơ sở thỏa thuận giá.

– Chung cư đã đưa vào sử dụng 5 năm mà chủ đầu tư cứ giữ quyền quản lý, không chịu bàn giao, bầu ban quản lý mới thì phải xử lý như thế nào? (Minh Cua, 46 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Đề nghị bạn nêu rõ tên, địa chỉ chung cư và tên chủ đầu tư để Sở Xây dựng phối hợp với UBND quận, huyện kiểm tra, xử lý theo quy định.

– Tôi chuẩn bị mua chung cư nhưng còn thắc mắc là chung cư có thời hạn sử dụng, nếu không may chung cư đó bị sập hoặc hư hỏng nặng thì ai sẽ là người sửa chữa lại hoặc xây lại vì lúc đó công ty bán cho mình đã giải tán hoặc phá sản rồi thì biết tìm ai để báo xây lại vì nó đã sập rồi? (Nguyễn Hùng, 31 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Nội dung tương tự với câu hỏi của bạn đã được trả lời ở phần trên. Đề nghị bạn tham khảo nội dung trả lời ở phần trên.

– Xin ông cho tôi được hỏi như sau: Diện tích sử dụng chung sẽ được xác định hoặc ghi như thế nào khi cấp chủ quyền cho căn hộ chung cư. (Phương Yến lan, 50 tuổi, [email protected]).

– Ông Đỗ Phi Hùng: Theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19-10-2009 của Chính phủ và mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (kèm theo Nghị định) này không quy định ghi diện tích thuộc sở hữu chung (sử dụng chung) nhà chung cư trong giấy chứng nhận cấp cho từng căn hộ.

– Diện tích sử dụng chung, cộng đồng dân cư có được phép cho thuê làm văn phòng làm việc hoặc Phòng tập thể dục… (cả tầng lầu). Mục đích là giảm trả phí quản lý vì hiện nay cư dân phải đóng phí quá cao, hơn 10.000 đ/m2 (Phương Yến Lan, 50 tuổi, [email protected]).

– Ông Đỗ Phi Hùng: Diện tích thuộc sở hữu chung, sử dụng chung trong nhà chung cư phải được sử dụng đúng công năng theo thiết kế. Do đó, việc cho thuê phần diện tích này để cho thuê làm văn phòng là vi phạm về công năng sử dụng.

– Phần sân trước – thuộc sở hữu chung (không bán cho ai), chủ đầu tư cho phép đơn vị mua (diện tích trệt, lửng lầu 1) làm văn phòng kinh doanh và có 1 số đặc quyền bằng Phụ lục hợp đồng. Vậy xin ông cho biết có được không? Rất cám ơn ông về buổi giao lưu hôm nay. (Phương Yến Lan, 50 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Việc chủ đầu tư xây dựng (hoặc cho phép bên mua) xây dựng công trình tại phần sân trống của chung cư là vi phạm pháp luật về xây dựng. Sở Xây dựng đề nghị bà thông báo ngay cho chính quyền địa phương (hoặc Sở Xây dựng) để xử lý kịp thời, nhằm đảm bảo an toàn PCCC tại chung cư này.

– Công ty chúng tôi hiện là chủ đầu tư 1 cao ốc phức hợp gồm: Tầng trệt và lửng thuộc sở hữu của UBND quận và được cho thuê làm siêu thị. Tầng 2 làm văn phòng của công ty chúng tôi. Từ tầng 3 trở lên là khu căn hộ. Chúng tôi xin hỏi về việc tính kinh phí bảo trì của phần diện tích siêu thị và văn phòng công ty. Theo hướng dẫn trong khoản 1 Điều 51 NĐ 71/2010/NĐ-CP thì phần diện tích này sẽ được tính theo 2% giá bán căn hộ có giá cao nhất nhưng chúng tôi thấy không hợp lý vì đơn giá đầu tư cho 2 phần này không nhiều bằng đơn giá đầu tư cho căn hộ như vậy có cách tính nào hợp lý hơn không? (NGUYỄN KIM NGỌC HÂN, 26 tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Hiện nay, quy định về kinh phí bảo trì phần sở hữu chung nhà chung cư đã được quy định tại Điều 51 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23-6-2010 của Chính phủ như Bà đã nêu trong câu hỏi. Ngoài quy định này, hiện chưa có quy định nào khác.

– Cao ốc A Ngô Gia Tự P.3, Q.10 tầng trệt và lửng, được Công ty Công ích Q.10 cho thuê, xin hỏi tiền thuê đó sẽ được sử dụng ra sao? Phần diện tích cho thuê đó là sở hữu chung hay riêng? (An Cao, 40 tuổi tuổi, [email protected])

– Ông Đỗ Phi Hùng: Cao ốc A Ngô Gia Tự là chung cư thuộc sở hữu nhà nước phục vụ cho việc bố trí tái định cư trên địa bàn quận 10 do Công ty Dịch vụ công ích quận 10 đang quản lý. Phần diện tích công ty đang quản lý thuộc sở hữu nhà nước. Việc cho thuê, xử lý tiền thuê phải theo đúng các quy định của nhà nước. Toàn bộ tiền thuê nộp ngân sách nhà nước.

(Theo Tuổi trẻ)

LEAVE A REPLY